TÊN VIỆT NAM: HOA HIÊN, huyên thảo, kim châm, hoàng hoa thái, phắc chăm (Tày), rau huyên.
TÊN KHOA HỌC: HEMEROCALLIS FULVA L.
HỌ: HEMEROCALLIDACEAE (Hoa Hiên)
MÔ TẢ:
Cây cỏ, sống nhiều năm, có nhiều rễ củ. Lá hình dải hẹp, mọc xoè ra hai bên. Hoa hình loa kèn, màu vàng cam, 6-10 cái mọc trên một trục hoa phân nhánh. Quả hình 3 cạnh. Hạt màu đen bóng.
MÙA HOA QUẢ:
Tháng 5-9.
PHÂN BỔ:
Cây nhập trồng làm cảnh.
BỘ PHẬN DÙNG:
Rễ củ, lá và hoa. Rễ củ và lá thu hái quanh năm, phơi hay sấy khô. Lá dùng tươi. Hoa hái lúc chớm nở, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC:
Hoa chứa protein, chất béo, đường khử, vitamin A,C, các acid amin : adenin, cholin, arginin, ngoài ra còn có iodin. Rễ củ có asparagin.
CÔNG DỤNG:
Chữa sốt, viêm đại tràng, lỵ, phù thũng, tiểu tiện khó, đái ra sỏi, sưng vú, chảy máu, đổ máu cam, nôn ra máu, viêm khớp. Ngày dùng 6-12g rễ hoặc 30-50g hoa, sắc hoặc ép tươi lấy nước uống. Dùng ngoài, giã nát rễ hoặc lá tươi đắp lên chỗ sưng đau.
Nguồn: Viện Dược Liệu